Bài viết

 

Nhỏ mà to

Cuộc sống có nhiều thứ không như chúng ta tưởng. Có những thứ nghịch mà thuận, nhỏ mà vĩ đại, ít mà dồi dào, thấp mà ai cũng phải ngước nhìn…

Thật vậy, toán học trên Nước Trời hoàn toàn khác với toán học ở thế gian, cách tính của Chúa Giêsu trái ngược với cách tính của chúng ta. Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã tốn nhiều công sức để phân định xem một ly nước “BỊ cạn một nửa” hay “ĐƯỢC đầy một nửa”.

Đối với người bi quan, ly nước bị cạn một nửa và họ lo sợ ly đó sẽ tiếp tục cạn nữa. Đối với người lạc quan, ly nước được đầy một nửa và họ hy vọng ly đó sẽ được đổ thêm cho đầy hơn. Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh. Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn.

Góa là tình trạng của một người đã lập gia đình nhưng chết vợ hoặc chết chồng – góa bụa. Nhưng người ta thường nói về phụ nữ: Bà góa, góa phụ, quả phụ. Góa phụ và quả phụ đều là phụ nữ chết chồng – có thể có con hoặc không, và có khác một chút xíu: Quả phụ là người còn trẻ, Góa phụ là người đã luống tuổi. Kể cũng lạ, “gà trống nuôi con” thì người ta thấy thương cảm, còn “gà mái nuôi con” thì người ta lại thấy… bình thường! Loại phụ nữ góa bụa thường bị xã hội coi thường, xưa cũng như nay, vì vậy mà họ cũng thường cảm thấy cô độc và tự ti mặc cảm. Thế nhưng hôm nay, Phụng Vụ Lời Chúa lại đề cao con người khốn khổ này.

Trình thuật 1 V 17:10-16 kể về một bà góa tốt bụng đã nuôi ngôn sứ Êlia.
Sau một thời gian hạn hán, Đức Chúa bảo ông Êlia đi Xa-rép-ta, thuộc Xi-đôn, và ở lại đấy, rồi sẽ có một bà goá ở đó nuôi ông. Thế là ông đi ngay. Khi đến cổng thành, ông thấy có một bà goá đang lượm củi. Ông gọi bà ấy và xin nước uống. Bà ấy liền đi lấy nước cho ông uống, xong rồi ông bảo bà cho ông xin miếng bánh. Bà lấy danh Thiên Chúa mà thề thật lòng là bà không có bánh, chỉ còn nắm bột và chút dầu trong vò, bà đi lượm vài thanh củi về nhà nấu nướng cho mẹ con bà ăn bữa cuối rồi chờ chết. Ông Êlia bảo bà đừng sợ, cứ về làm như bà vừa nói, nhưng trước tiên bà phải làm một chiếc bánh nhỏ cho ông ăn trước, rồi sau đó bà sẽ làm cho mẹ con bà. Ông cho biết rằng Thiên Chúa đã hứa là hũ bột sẽ không vơi vò dầu sẽ chẳng cạn cho đến ngày Ngài đổ mưa xuống trên mặt đất.

Bà góa đã và làm như ông Êlia nói. Thế là mẹ con bà và ông Êlia có đủ ăn lâu ngày vì hũ bột không vơi và vò dầu chẳng cạn đúng như lời Đức Chúa đã hứa.

Chỉ có Thiên Chúa làm được như vậy, vì Ngài là Tạo Hóa duy nhất, chẳng có thần thánh nào khác. Người Việt chúng ta, kể cả những người không tin vào Thiên Chúa, thường cầu xin khi trời nắng lâu ngày: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm”. Quả thật, El Niño hay La Niña thì chúng ta cũng đều phải chịu khổ (1), vì khô quá hoặc ướt quá cũng “mệt mỏi” lắm!

Có những hiện tượng bất thường, chúng ta gọi đó là thiên tai, nhưng thực ra chỉ là nhân tai. Vì chính chúng ta phá hại môi trường nên mới có những hiện tượng bất thường, chứ Thiên Chúa tạo dựng thiên nhiên tốt đẹp lắm. Ngài có thể ngăn chặn, nhưng Ngài cho phép điều xấu xảy ra vì Ngài tôn trọng tự do của chúng ta, và cũng là để chúng ta chịu khổ mà “sáng mắt” ra.

Thiên Chúa chí minh và chí thiện, Ngài rất nhân hậu nhưng cũng rất công bằng (x. 1 Pr 1:17; Rm 2:2; Kh 19:11). Tác giả Thánh Vịnh nói: “Thiên Chúa xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn. Chúa giải phóng những ai tù tội, Chúa mở mắt cho kẻ mù loà. Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, Chúa yêu chuộng những người công chính” (Tv 146:7-8). Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, yêu thương mọi người, không phân biệt ai, dù quen hay lạ, đặc biệt là xót thương những người bị xã hội ruồng bỏ: “Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở, Sion hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời” (Tv 146:9-10).

Con Thiên Chúa đã hạ mình đến tột cùng và yêu thương chúng ta đến cùng, không chỉ ngày qua hoặc ngày nay, mà cả ngày mai và muôn thuở muôn đời. Thánh Phaolô minh chứng điều đó: “Đức Kitô đã chẳng vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, vì cung thánh ấy chỉ là hình bóng của cung thánh thật. Nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta. Người vào đó, không phải để dâng chính mình làm của lễ nhiều lần, như vị thượng tế mỗi năm phải đem theo máu của loài khác mà vào cung thánh” (Dt 9:24-25). Trên cả tuyệt vời, hy lễ của Đức Giêsu Kitô chỉ một mà nên trọn vẹn tất cả, nhưng Ngài vẫn chấp nhận tiếp tục chịu đau khổ vì chúng ta.

Thánh Phaolô giải thích cặn kẽ: “Người đã phải chịu khổ hình nhiều lần, từ khi thế giới được tạo thành. Nhưng nay, vào kỳ kết thúc thời gian, Người đã xuất hiện chỉ một lần để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình. Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét. Cũng vậy, Đức Kitô đã tự hiến tế chỉ một lần, để xoá bỏ tội lỗi muôn người. Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9:26-28).

Cuối Năm Phụng Vụ cũng là thời điểm cuối năm đời thường. Một sự trùng hợp thú vị. Cuối năm cũng là dịp nhắc nhở mọi người về đoạn cuối cuộc đời của mình. Cuối năm nghĩa là sắp hết năm và chắc chắn sẽ hết, cuối đời nghĩa là chúng ta sắp chết và cũng chắc chắn sẽ chết. Chuyện nhỏ mà to, chuyện bình thường mà đặc biệt. Chết rồi còn lại gì? Mọi thứ vật chất chúng ta sở hữu sẽ thuộc về người khác, chỉ có những gì chúng ta trao tặng sẽ còn lại mãi với chúng ta. Đó là các nhân đức, mà nhân đức quan trọng nhất là đức ái, đơn giản là những gì chúng ta CHO người khác. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Lúc hiến thân là lúc nhận lãnh, lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Đức ái vô cùng kỳ diệu, và còn mãi muôn đời!

Trình thuật Mc 12:41-44 (tương đương Lc 21:1-4) nói về việc dâng cúng của bà goá nghèo, tức là đề cập việc trao tặng, biếu hoặc cho. Điều này cho thấy rằng động từ “cho” là động từ quan trọng lắm: “CHO thì có Phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35). Thật vậy, “hãy làm mọi sự vì Đức Ái” (1 Cr 16:14).

Một hôm, Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma (2). Thực tế rất đời thường, nhưng Đức Giêsu dùng sự thật này để dạy các môn đệ một bài học quý: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình”.

Thánh Luca cũng cho biết tương tự: “Bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21:3-4). Bà góa nghèo bị người ta khinh miệt nhưng lại là “thầy dạy” của chúng ta về cách làm việc từ thiện.

Qua câu chuyện thực tế này, Chúa Giêsu chỉ trích giới lãnh đạo Do Thái giáo đã đạo đức giả trong cách dâng cúng công đức của mình nhằm tìm kiếm sự tôn trọng từ người dân. Ngài chỉ trích người khác chứ Ngài có chỉ trích chúng ta? Bóp trán hoặc vắt tay lên trán mà suy nghĩ, liệu chúng ta có thấy lòng mình thanh thản?

Ông A dâng cúng bạc tỷ thì có bằng ân nhân đặc biệt, bà B dâng cúng vài chục triệu thì có bằng ân nhân bậc I, II, III,… anh C dâng cúng vài triệu thì có bằng ân nhân bình thường, còn chị D không ai thèm cưới nhếch mép với chị vì chị không có nhiều tiền để dâng cúng, chị ngó trước ngó sau rồi vội vàng bỏ vài chục ngàn đồng vào thùng ở cuối nhà thờ, chị sợ người ta nhìn thấy! Cái nào NHỎ, cái nào TO?
Việc dâng cúng là cần thiết, rất tốt, nhưng những gì chúng ta gọi là “việc thiện” hoặc “việc đạo đức” thì phải thực sự có “chất” đạo đức và thánh thiện. Có thể chúng ta cũng rất cần cảnh giác mà đặt vấn đề: “Chưa rối đạo nhưng rối việc đạo!”.
Lạy Thiên Chúa, xin giúp con biết sống thật với chính mình, biết mình và biết người, để đừng se sua hoặc “ra cái vẻ” với người khác. Xin diệt trừ trong con mọi ý nghĩ xấu xa, ích kỷ. Con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

(1) Theo tiếng Tây Ban Nha, El Niño (eo ni-nhô) nghĩa là “bé trai”, có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh. El Niño là hiện tượng nước biển nóng lên.

Theo tiếng Tây Ban Nha, La Niña (la ni-nha) nghĩa là “bé gái”, là hiện tượng trái ngược lại với hiện tượng El Niño. Hiện tượng La Niña thường bắt đầu hình thành từ tháng Ba đến tháng Sáu hằng năm, và gây ảnh hưởng mạnh nhất vào cuối năm cho tới tháng Hai năm sau. La Niña xảy ra ngay sau khi hiện tượng El Niño kết thúc. La Niña là hiện tượng nước biển lạnh lên. La Niña còn được gọi là El Viejo hoặc Anti-El Niño.

(2) Giá trị 2 đồng kẽm (Hy ngữ, số ít: lepton, số nhiều: lepta) là 1 quadrans, chỉ bằng 1/4 đồng xu. Đồng kẽm là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất thời La Mã. Khi lưu hành ở Palestine, 1 lepton trị giá khoảng 6 phút làm công theo lương trung bình mỗi ngày.




Trầm Thiên Thu