Đức Mẹ



Đức Mẹ hiện ra tại Marienfried (Germany)

Lịch sử Đức Mẹ Marienfried
GIA ĐÌNH TÔN VINH ĐỨC MẸ MARIENFRIED

MARIENFRIED, một nơi hành hương trong thời kỳ trưởng thành.
Dịch từ tài liệu Marienfried, ein Wallfahrtsort in der Pubertat, của Klaus Weber

Thay Lời Tựa
Kính gửi : Quý Ông, Bà, Quý vị đại diện Cộng Đoàn Công Giáo.

Vâng theo lời Đức Mẹ chỉ dạy lần hiện ra tại Marienfried ngày 25.5.1946 “CON HÃY LO TRUYỀN RAO Ý MẸ CHO THẾ GIAN BIẾT”. Gia Đình Tôn Vinh Đức Mẹ Marienfried xin hân hạnh giới thiệu đến quý Ông, Bà, quý vị đại diện Cộng Đoàn Công Giáo “MARIENFRIED, MỘT NƠI HÀNH HƯƠNG” trong kỳ trưởng thành.

Hầu làm tăng thêm lòng trông cậy, kính mến Đức Mẹ. Đồng thời nhờ Mẹ đến với Chúa Giêsu (Per Mariam ad Jesum), Mỗi gia đình Công Giáo Việt Nam biết noi gương gia đình Nazareth xưa, học biết cầu nguyện và sống đức tin trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Kính

Gia Đình Tôn Vinh Đức Mẹ Marienfried

MARIENFRIED

Marienfried là một nơi cầu nguyện theo một cách thức đặc biệt, nằm bên ven xứ đạo Pfaffenhofen, cách Ulm 15km về phía đông nam.

Từ Neu-Ulm đến đây cũng có tuyến đường xe bus, nếu đi xe hơi phải đi xa lộ Ulm-Kempten (rời xa lộ ở lối ra Nersingen), các nhóm hành hương đông người từ xa đến có thể trú ngụ trong nhà trọ Marienheim, điện thoại 07302-6433.


Lịch sử phát sinh Marienfried.

Khởi đầu ngày thứ hai tuần hiện xuống ngày 13.5.1940. cô Bärbel Rueß, sinh 15.6.1924, con gái người chủ rừng, vào rừng tìm cỗ tràng hạt mất hôm trước. Chị vừa tìm vừa lưỡng lự không biết nên lần chuỗi mùa nào (sự vui, sự thương, sự mừng). Bỗng có một bà lạ mặt đi lại chào và nói:
- Có phải em đang suy nghĩ nên lần chuỗi mùa nào không? Ta muốn dậy em thêm một kinh lần chuỗi nữa và cùng em cầu nguyện.
Bärbel trả lời:
- Sao bà lại rõ tôi đang nghĩ gì? Bà là ai vậy?
Bà đáp:
- Ta là ai… em chẳng cần biết, miễn là em siêng năng lần chuỗi và gẫm kinh ta dậy, lúc đó em sẽ biết ta hơn và sẽ còn gặp ta nữa.
Sau đó bà dậy Bärbel gẫm kinh lần chuỗi khác gọi là Kinh Lần Chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội (1).
Thay vì đọc câu nguyện quen thuộc sau mỗi kinh Kính Mừng, bà dậy Bärbel các lời cầu nguyện như sau:

…và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ. Qua việc trinh thai vẹn tuyền của Mẹ, xin Mẹ cứu quê hương chúng con.
…xin Mẹ che chở quê hương chúng con.
…xin Mẹ dẫn dắt quê hương chúng con.
…xin Mẹ thánh hoá quê hương chúng con.
…xin Mẹ lãnh đạo quê hương chúng con.

(1) Ngoài các kinh mùa Vui, Thương, Mừng, Bà dậy thêm kinh nữa gọi là kinh Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Bärbel Rueß, sinh 15.6.1924, chết 4.11.1996.

Người ta cũng có thể đặt ý chỉ cầu nguyện cho tha nhân, cho gia đình hay cho các cộng đoàn thay vào chỗ “quê hương chúng con“. Lúc cùng nhau cầu ngưyện Bärbel để ý chỉ nghe Bà đọc đôi câu như “Lậy Cha chúng con”, “Vinh Danh Chúa Cha”, “Amen”.

Lần chuỗi xong Bà cất bước, xa dần trên con đường nhỏ mạn bên kia. Khuôn mặt lẫn cách ăn mặc giản dị của Bà gieo vào lòng Bärbel một ấn tượng khó quên.
Sau này trong nội trú Bärbel hỏi mẹ Constantia, giám học truờng nữ sinh ở Günzburg, xem mẹ đã nghe qua kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội chứa chan hồng ân này chưa, mẹ lắc đầu.

Ngày 29.91943 cha Martin Humpf (sinh ngày 09.09.1907) được bổ làm cha sở họ đạo Pfaffenhofen, thánh Martin là quan thầy của họ đạo này. Anna Humpf là em gái cha sở, cũng dọn đến ở trong nhà xứ, bà vừa lo việc nội trợ cho cha anh, vừa đảm nhiệm việc chăm lo dẫn dắt thanh thiếu niên. Hai anh em xuất thân từ một gia đình đông con, 13 đứa. Trong một bài giảng tháng Đức Mẹ năm 1944, cha sở đề nghị giáo dân trong xứ chung lời hứa xây một nguyện đường nhỏ dâng lên Mẹ Thiên Chúa khi Mẹ che chở xứ đạo thoát cơn hoạn nạn chiến tranh, vì cách đó chỉ độ 6 đến 7 km là hai cứ điểm quân sự có thể gây cho xứ đạo bị hiểm họa ném bom.

Với tài khéo léo lạ thường lẫn lòng nhiệt thành sôi nổi, bà Humpf, một bà đầy lòng xác tín quê làng Schönstatt (2), đã thành công lôi kéo được một số thanh nữ về lo cho “dự án Schönstatt” (3)

(2) Schönstatt là một làng gần Koblenz. Cja Kenntnich đã sáng lập ra tu hội ở làng này, nên đặt tên là Schönstatt.
Tu hội gồm hai hạng:
1- Người đi tu luôn gọi là Schönstatt hay Schönstatterin.
2- Người không đi tu nhưng nhập tu hội cũng gọi như trên.

(3) Vì Anna Humpf là người của tu hội Schönstatt, có chương trình cho xứ đạo nên gọi là dự án Schönstatt.

------------------------------------------------------

Bärbel thuộc về nhóm này. Trong số các thanh nữ kể trên, có 6 cô về sau dâng mình cho Chúa trong bậc tu dòng. Ngày 8.12.1945 nhân sau buổi họp nhóm Bärbel đã kể riêng cho bà Humpf nghe kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội. Khi nghe bà hỏi về xuất xứ kinh, Bärbel thuật lại từng chi tiết cuộc gặp gỡ giữa cô và Bà lạ mặt kia.

Do cha linh hướng chỉ bảo, Bärbel với tuổi 16 đã tự dâng mình trọn vẹn cho Mẹ Thiên Chúa (theo phương thức thánh Ludwig M. von Grignon) (4).

Suốt thời chiến Thiên Thần hiện ra nhiều lần truyền cho Bärbel các việc cầu nguyện. Sau này tình cờ thấy được những linh hồn bất hạnh khốn nạn, chị lãnh nhận việc đền tội.

Anh chị em Humpf biết rõ chuyện này vào ngày 22.7.1946, lúc dự thánh lễ nghe cha sở thông báo có một hội viên hàng xứ qua đời, cô Anna Humpf ngạc nhiên về phản ứng khác thường của Bärbel lúc đó đang ngồi ngay trước cô.

(4) Không hẳn phải đi tu, người ta cũng có thể tự dâng hiến làm tôi Đức Mẹ.

------------------------------------------------------

Nhưng các biến cố chính thức của Marienfried bắt đầu vào hôm thứ năm tuần Phục Sinh ngày 25.41946.

Sau đây là bài tường thuật do cha Humpf viết gửi về tòa tổng giám mục địa phận Ausburg ngày 6.1.1947. Tôi trích bài này từ cuốn sách của Eizereif, một cuốn sách đáng tin cậy.

SIÊU KIẾN LẦN THỨ NHẤT (Vision)
Thứ năm ngày 25.4.1946

Hôm đó thứ năm ngày 25.4, con, Anna và cô Bärbel Rueß vào rừng tìm chỗ dựng đài đặt ảnh, sau đó sẽ xây một nguyện đường đã hứa dâng lên Mẹ Maria ngay tại đây. Nhưng vì có hai chỗ thuận tiện cho dự án nên chúng con bàn qua tính lại mãi cũng không dứt khoát được chọn chỗ nào. Lúc quan sát chỗ thứ hai, chúng con vẫn tiếp tục bàn tính. Chúng con cũng đề cập đến chuyện xuất phát ra những nơi hành hương khác được Đức mẹ chỉ qua dấu hiệu như ở Fatima, Lộ Đức. Con ước ao được Mẹ ban cho một dấu hiệu.

Tiếp đó vừa lần chuỗi vừa đi trở lại chỗ thứ nhất để khởi sự đốn cây phát cỏ, vì chỗ này chỉ toàn bụi rậm. Mới khởi sự được một chốc, Bärbel bỗng nói: “Hình như có ai gọi con”. Chúng con nhìn quanh, tuyệt nhiên không có ai khác. Lát sau cô lại nghe tiếng gọi. Con đoán hai đứa em gái Bärbel gọi chị. Nhưng vẫn chẳng thấy ai khác. Thình lình Bärbel chạy lao vào bụi cây réo to: “Cha ơi! lại đấy xem nè, có một người đàn bà!”. Con vội chạy nhanh đến, nhưng chẳng thấy ai. Bỗng Bärbel đứng yên tại chỗ, trò chuyện với ai đó trong lúc con chỉ thấy có một mình cô. Con nghe cô hỏi: “Thực ra bà là ai? Làm sao bà biết được chuyện này? Tôi thật không hiểu nổi.”

Qua các diễn biến bất ngờ trên chúng con mới lần hồi biết Bärbel đang được siêu kiến.
Lúc bà kia biến đi, Bärbel trở lại làm việc. Lại thêm lần nữa cô nghe tiếng gọi, và cô lại nói chuyện với người hiện ra. Cô vẫn hỏi như trước: “Vậy bà là ai? Làm sao biết được chuyện này? Tôi thật không hiểu được. Đúng rồi 6 năm trước. À, hôm đó là thứ hai tuần hiện xuống ngày 13.5.1940. Bà ở đâu đến vậy? Làm sao bà biết được mọi chuyện”. Sau đó bà biến đi. Bärbel tin chắc chúng con cũng thấy bà và nghe được tất cả. Vừa nghe chúng con vừa phủ nhận, cô liền nổi quạu và lẩm bẩm: “Chuyện gì con thấy con biết chứ! Tâm trí con vẫn bình thường ngay thẳng mà”. Cô hoàn toàn nổi nóng vì chúng con cứ khư khư bảo là không thấy sự gì.

Vào hôm khác con hỏi cô đã nghe bà kia nói những gì, cô đáp: “Bà ấy nói toàn những điều tối nghĩa khó hiểu. Nơi nào có nhiều cậy trông và lời giáo huấn, ta có thể làm mọi sự, nơi đó ta sẽ trải rộng bình an. Khi nhân loại tin vào quyền năng của ta, đó là lúc hoà bình ngự đến. Ta là dấu chỉ của Thiên Chúa hằng sống. Ta in dấu ta trên trán con! Ác tính sẽ theo đuổi dấu ta, nhưng dấu ta sẽ toàn thắng nó.”

Còn về câu hỏi “bà là ai?”, cô nghe đáp: “Nếu ta không che mặt, em sẽ biết ta ngay”. Lúc đi khỏi bà còn nói: “Nguyện bình an ở cùng các con và ở cùng những ai cầu nguyện nơi đây”.
Con hỏi Bärbel: “Còn bà kia là ai?” Cô cũng không biết bà là ai. Chắc là người đàn bà mà Bärbe đã gặp vào ngày 13.5.1940 lúc cô vào rừng. Hồi đó bà đã dạy cho Bärbel kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội. Con hỏi:“Kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội là gì?”. Cô nói: “Thay vì đọc câu quen thuộc sau mỗi kinh kính mừng, nên thế vào các câu nguyện như sau: Qua việc trinh thai vẹn tuyền của Mẹ, xin mẹ cứu…, xin Mẹ che chở…, xin Mẹ dẫn dắt…, xin Mẹ thánh hóa…, xin Mẹ lãnh đạo quê hương chúng con”. Câu “quê hương chúng con” cũng có thể thay bằng một ý cầu nguyện khác.

Bấy giờ con mới nói: “Bà kia không phải là ai khác hơn là Mẹ Thiên Chúa”. Vừa nghe vậy Bärbel mất tự chủ không muốn nhận lời con là đúng, vì cô mình chẳng xứng với vinh dự đó.

SIÊU KIẾN LẦN THỨ HAI
Ngày 25.5.1946

Sáng ngày 25.5 Thiên Thần mời Bärbel đến Marienfried nội trong ngày, Thiên Thần thường đến với cô vào buổi sáng, cùng cô cầu nguyện và còn tỏ cho cô biết những điều cô cần cầu nguyện cho. Ngài tự xưng là Thiên Thần của Đấng Thông Ơn Cao Trọng (Gnadenvermittlerin).

Sau thánh lễ cô xin Anna cùng đi chung. Nhưng trước giờ ngọ, cô lại gửi thư cho Anna nói không đi Marienfried nữa, vì cô cho là mọi chuyện xảy đến với cô chỉ là lầm lẫn nguy hại. Nghe tin đó con vội đến năn nỉ cô nên thực hiện cho xong việc Thiên Thần truyền như cô đã hoàn thành từ trước tới giờ, lần này nếu không thi hành, ắt cô đi đến chỗ mâu thuẫn kỳ quặc với chính mình. Bởi con nghiêm trang nhắc nhở, cô mới ép lòng chịu đi. Sau 5 giờ chiều cả hai cùng đi ra, dùng hoa trang điểm đài, đặt ảnh và cầu nguyện rất lâu. Khi thấy bố lái xe qua đó, Bärbel nói với Anna: “Thôi mình về”. Nhưng Anna muốn cầu nguyện thêm nên ở nán lại. Chợt Bärbel thấy Thiên Thần đứng bên cây, tay đang chỉ về phía phải. Cô nhìn theo và lại thấy bà bí mật đang đứng đó. Nhận ra chính bà này là Maria, Mẹ Chúa Trời, cô cất tiếng gọi: Maria!”

Đấng hiện ra bắt đầu đối thoại:

“Mẹ là đấng Thông Ơn Cao Trọng. như Chúa Con tự hiến tế để Chúa Cha rủ lòng thương xót thế gian thế nào, Mẹ cũng cầu bầu cùng Chúa Con để lời nguyện của các con được chấp nhận. Vì thế gian vốn chẳng biết Mẹ, nên Chúa Kitô cũng thành người xa lạ. Bởi dân các nước đã khai trừ Chúa Con, nên Chúa Cha trút cơn thịnh nộ lên đầu chúng. Thế gian đã được dâng hiến cho trái tim vẹn tuyền Mẹ, vì lẽ đó nhiều người phải gánh trách nhiệm nặng nề. Mẹ cầu mong thế gian sống đời hiến dâng. Các con hãy phó thác, hoàn toàn cậy trông nơi trái tim vẹn tuyền Mẹ. Hãy tin Mẹ có thể làm được mọi sự bên tòa Chúa Con. Hãy đặt trái tim vẹn tuyền Mẹ thay cho tấm lòng tội lỗi các con. Mẹ sẽ là người lôi cuốn sức mạnh Thiên Chúa và tình yêu Chúa Cha, và sẽ tái dựng Đức Kitô trong các con khi tới hồi viên mãn. Các con hãy làm tròn lời Mẹ xin, để chẳng bao lâu nữa Chúa Kitô có thể ngự trị như vua bình an. Thế gian phải uống chén thịnh nộ bởi tội lỗi vô vàn đã xúc phạm đến trái tim Mẹ. Ác tinh sẽ cuồng điên tàn hại vì biết thời gian nó ngắn ngủi, vì thấy nhiều người quy tụ quanh dấu hiệu Mẹ.

Dù có hủy được thân xác những người này nó vẫn chẳng có quyền lực gì trên họ. Họ đã hy sinh vì Mẹ, hầu quyền năng Mẹ ngày càng mạnh mẽ, để Mẹ dẫn đưa đoàn quân cò sót lại đến khải hoàn cho Chúa Kitô. Số người đón nhận Mẹ lúc này tuy ít, nhưng sẽ tăng lên mãi. Các con ơi! Mẹ muốn nói với các con điều này: Trong những ngày đẫm máucác con đừng quên Thánh Giá là một ân sủng, các con hằng cảm tạ Chúa Cha và ơn Thánh Giá này. Hãy cầu nguyện và hy sinh cho kẻ có tội. Qua Mẹ các con hãy dâng hồn xác và việc làm lên Chúa Cha! Hãy phó thác đời các con trong tay Mẹ định liệu. Hãy lần hạt! Đừng cầu xin quá nhiều vì của cải bên ngoài! Lúc này còn nhiều điều đáng cầu xin hơn. Cũng đừng trông chờ dấu hiệu hay phép lạ. Trong vai trò đấng Thông Ơn Cao Trọng, Mẹ muốn kín đáo hành động. Mẹ ban bình an tâm hồn cho các con một khi các con làm tròn lời Mẹ xin. Nền hòa bình giữa các dân tộc chỉ có thể xây dựng trên bình an tâm hồn. Đến lúc ấy vua Hòa Bình là Đức Kitô sẽ cai trị muôn dân”.

Khi nghe bà bảo: “Con hãy lo truyền rao ý Mẹ cho thế gian biết”. Bärbel thưa: “Trí nhớ con kém lắm, làm sao nhớ hết được”. Bà nói: “Con sẽ nhớ được”.

Bà còn tin tưởng giao cho Bärbel một bí mật. Cuối cùng cô nhận lệnh trở lại đây vào dịp lễ thánh Viện Phụ Wilhelm.

Liên quan đến sứ mệnh trao cho Bärbel. Đấng hiện ra còn phán như sau: “Quyền lực ma quỷ tung ra ngoài mạnh đến độ lừa đảo hết những ai không vững tin vào Mẹ. Sẽ có lúc con phải đơn thân chịu vu khống nặng nề, vì ma quỷ biết làm cho nhân loại sinh ra mù quáng, ngay cả những người ưu tú nhất cũng bị mắc lừa. Nhưng con phải đặt mọi sự trên nền tảng cậy trông và phó thác. Bất kể nơi nào không trông cậy nơi trái tim vẹn tuyền Mẹ, nơi đó ma quỷ xưng hùng, còn nơi nào nhân loại biết để trái tim vô nhiễm Mẹ thay cho lòng tội lỗi họ, nơi ấy ma quỷ đành phải bó tay. Nhưng nó vẫn theo đuổi con cái Mẹ. Cho dù các con Mẹ có bị khinh miệt đến đâu đi nữa, ma quỷ vẫn không hại nổi họ.”

Để xác nhận lời mình có ứng nghiệm, bà tỏ cho Bärbel một dấu chứng như sau: “trên quãng đường từ Pfaffenhofen đến Beuren có một người đang gặp khốn khó hiểm nghèo, đó chính là người con cần giúp đỡ. Hãy dẫn ông ta đến đây, ông ta sẽ được trợ giúp”.

Bärbel đến nơi đó và gặp một người đàn ông. Nghe tiếng ông nói có lẽ là người Balan.
Bärbel hỏi: “Ông muốn đi đâu?”.

Ông đáp: “Vào rừng”. Ông có vẻ luống cuống.

Thấy ông như giấu cái gì trong người cô vội hỏi: “Ông giấu cái gì trong áo vậy?”.

Ông đáp: “Đâu có cái gì!”.

Bärbel: “Ông giấu sợi dây!”.

“Nặng quá! Cô giúp tôi được chứ?”

“Tôi giúp ông không nổi, nhưng tôi đưa ông đến một nơi có người sẽ giúp ông”

Cô dắt người đàn ông đến Marienfried. Ông bộc lộ: “Tôi thật không biết chuyện gì xảy đến với tôi, khiến người tôi như bị ai điều khiển”.
Rồi ông nán lại một mình bên đài đặt ảnh. Chiều dần buông, các cô gái đến đó thấy treo một sợi dây.

Hình dạng đấng hiện ra lần này trông hao hao như lần trước (ngày 25.4), vẫn vẻ giản dị như lúc nói chuyện. Sau khi đối thoại bà chắp tay lại. Lúc ấy Thiên Thần đứng bên bắt đầu cầu nguyện. Bärbel không nhớ hết lời Thiên Thần nguyện. Cô chỉ nhớ được lời sau: “Lạy Mẹ ban ân sủng, xin mở tay làm ba ơn nhiệm lạ, lạy Mẹ ban phép lạ, xin làm Mẹ chốn cậy trông. Lạy Mẹ đấng Thông Ơn Cao trọng”. Trong lúc Thiên Thần cầu nguyện đấng hiện ra trở nên sáng ngời rực rỡ. Ba vầng hào quang tựa như một vương miện, ba lớ đội trên đầu Bà. Cầu nguyện xong Thiên Thần bảo: “Hai người hãy quỳ xuống, nhận phép lành của Mẹ Thiên Chúa”.
Mẹ Thiên Chúa giơ tay ban phép lành giống như linh mục: “Mẹ ban bình an của Chúa Kitô cho các con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

Lúc ban phép lành, Bà trở nên trong suốt như pha lê. Vầng sáng khiến Bärbel chói mắt, không thể nhìn thấy gì nữa. Riêng Anna chỉ nghe Bärbel hỏi khi nói chuyện cùng đấng hiện ra, ngoài điều đó ra Anna không thấy cũng không nghe được gì khác.

SIÊU KIẾN LẦN THỨ BA
Dịp lễ thánh Viện Phụ Wilhelm ngày 25.6.1946

Thể theo lệnh đấng hiện ra ngày 25.5 (lần thứ hai) Bärbel, Anna và con đi đến Marienfried lúc 5:30 chiều. Chúng con lần hạt trên đường đi. Anna lo trang hoàng bức ảnh, rồi chúng con yên lặng chiêm niệm. Chợt Bärbel vô cớ muốn chạy vội đi như lần trước, vẻ mặt đầy nghi ngờ. Chúng con đâu chịu để cô chạy, năn nỉ giữ cô lại. Chúng con hần như câm chẳng thốt được một lời, bởi Bärbel lại thấy đấng hiện ra và kêu to: “Maria ! Mẹ đẹp tuyệt vời”.

Đấng hiện ra bắt đầu đối thoại:

“Mẹ là đấng Thông Ơn Cao Trọng. Chúa Cha muốn thế gian thừa nhận vai trò này của nữ tỳ Ngài. Nhân loại phải tin Mẹ, bạn trăm năm của Chúa Thánh Thần, là đấng trung gian mọi ân sủng trung thành. Thánh ý Chúa Cha muốn dấu hiệu của Mẹ được hiển lộ ra. Chỉ con cái Mẹ biết dấu hiệu bí mật hiển lộ này, do đó chúng con muốn tôn vinh đấng vĩnh cửu. Lúc này Mẹ chưa thể mặc khải quyền năng Mẹ cho thế gian. Mẹ cùng đàn con tạm thời lui bước, dẫu vậy Mẹ muốn làm nhiều phép lạ nơi mọi linh hồn, cho đến khi số lễ vật nên trọn. Những ngày tăm tối qua mau hay chậm là tùy nơi các con. Hình ảnh loài thú sẽ vỡ tan trước lời cầu nguyện và hy sinh của các con, đến lúc ấy Mẹ mới có thể tỏ mình cho toàn thế gian, hầu làm vinh danh đấng Toàn Năng.

Hãy chọn dấu hiệu Mẹ, để Chúa Ba Ngôi được mọi người phụng thờ và tôn vinh. Hãy cầu nguyện và hy sinh vì Mẹ! Hãy thường xuyên cầu nguyện! Chăm lần chuỗi, các con hãy xin mọi sự cậy nhờ trái tim Vô Nhiễm Mẹ bên Chúa Cha. Nhờ vậy được tôn vinh, Ngài sẽ ban cho các con tất cả. Hãy lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội chan chứa hồng ân! Lần chuỗi này các con đừng xin những thứ phù du, nhưng hãy xin ân sủng cho các linh hồn, cho cộng đồng các con, cho mọi dân tộc để tất cả yêu mến và tôn vinh trái tim thiêng liêng. Hãy giư ngày thứ bảy dâng cho Mẹ như đã mong. Các tông đồ, linh mục nên tự hiến cách riêng cho Mẹ, để của lễ cao trọng họ dâng lên đấng tối cao, được thêm thánh hóa và xứng đáng cậy nhờ tay Mẹ dâng.

Hãy dâng lên Mẹ nhiều của lễ! Hãy dâng lời cầu nguyện làm của lễ! Đừng vụ lợi. Tôn vinh Chúa Cha và ăn năn thống hối là hai điệu lệ trong suốt thời buổi này. Khi các con sẵn sàng tuân theo, Mẹ sẽ lo liệu mọi bề. Mẹ muốn trao cho các con Thánh Giá nặng và sâu như biển cả, bởi Mẹ yêu thương các con trong Con Yêu Dấu của Mẹ đã bị hiến tế. Mẹ xin các con hãy sẵn sàng vác thập giá để Chúa Ba Ngôi mãi được tôn vinh. Mẹ mong mỏi nhân loại sớm hoàn tất ước nguyện của Mẹ, bởi đấy là ý Cha trên trời, và nhờ đó mà Ngài được vinh hiển cả sáng từ bây giờ cho đến muôn đời. Thiên Chúa báo trước một tai họa khủng khiếp giáng xuống những ai không phục tùng thánh ý Ngài.”

Bà còn nói các điều trên là sứ điệp cho thế gian, phải loan báo cho nhân loại biết. Bärbel hỏi xem cô phải làm thế nào để thực hiện việc đó. Đấng hiện ra đáp: “cần cho thế gian rõ Mẹ có một sứ điệp mới gửi tới họ. Mong thế gian hiểu lời Mẹ nói, từng chữ một, con nên ghi nhớ điều đó. Mẹ chẳng nói đến cảnh ngộ bên ngoài, riêng biệt. Chỉ mong sao nhân loại hiểu được thánh ý Chúa Cha mới là điều quan trọng.

Lời Mẹ sẽ gây công phẫn cho một số đông người, nhưng bên cạnh Mẹ còn một số nhỏ sẽ lãnh hội đúng và đo được giá trị lời Mẹ. Nhóm nhỏ này nhận biết địa vị của họ trong thế giới hôm nay và gieo hoan lạc cho nhân loại. Họ sẽ có đại biểu tại nhiều quốc gia để lo truyền bá sứ điệp của Mẹ. Có nhiều người trong nhóm đã được chứng kiến phép lạ tiềm ẩn của sứ điệp. Họ nhìn nhận sứ điệp như là “Mẹ Phép Lạ” và tôn vinh Mẹ với tước hiệu này.

Bärbel và đấng hiện ra tiếp tục nói chuyện rất lâu. Cô chỉ hỏi những gì chúng con nhờ hỏi hộ. Cô xin Bà tỏ ra một dấu bên ngoài về việc xảy ra. Bà nói: “Mẹ đã ban nhiều dấu hiệu, vẫn thường ngỏ lời với thê gian, nhưng nhân loại không đón nhận một cách đúng đắn. Đám đông người tuôn đến chỉ vì dấu bên ngoài, chẳng động gì đến chuyện chính yếu, và vì không tuân theo những đòi hỏi của dấu chỉ, nên dấu bên ngoài thành gánh nặng cho họ”

Lúc hỏi nguyện đường có nên xây tại đây không, Bà đáp: “Các con đã được toại nguyện, cứ làm theo lời các con đã hứa”.

Nghĩ đến bức ảnh, Bärbel hỏi có nên đặt trong nguyện đường không, Bà chỉ bức ảnh MTA (5) kế bên, bảo chúng con đặt bức ảnh đó trong nhà nguyện, bởi sẽ có nhóm người tu họp tại đây đẻ cầu nguyện và dâng của lễ dưới chân ảnh.

Bức ảnh MTA là bức ảnh ban phép lạ, đặt ở trên cung thánh nhà thờ ở Marienfried

Đấng hiện ra cho biết Bà đã nhận của lễ dâng, mong rằng làn sóng người đến quây quần dưới ảnh. Nếu nhóm nhỏ này thực thi ý Bà, Bà sẽ thực hiện từ nơi đây những phép lạ vĩ đại đầu tiên. Bà cũng sẽ làm phép lạ ở bất cứ nơi nào con người nhìn nhận và tuân theo sứ điệp của Bà. Chỉ có con cái Bà mới nhận ra những phép lạ này, vì được tỏ ra một cách bí ẩn.

Đấng hiện ra xin Bärbel cầu nguyện: “Con cái Mẹ phải ca ngợi đấng Vĩnh Cửu nhiều hơn, tán tụng và tạ ơn Ngài, Đấng đã dựng nên muôn loài vì vinh hiển Ngài”. Cần cầu nguyện nhiều cho kẻ có tội. Vì mục đích trên nhiều người tự nguyện hiến mình làm tôi tớ Bà, hầu lãnh nhận các sứ mệnh cầu nguyện Bà trao. Có những linh hồn hiện đang mong chờ con cái họ cầu nguyện cho. Bà còn dặn chúng con cầu nguyện lên bà là đấng Thông Ơn Cao Trọng mỗi khi lần chuỗi xong.

Đấng hiện ra vừa dứt lời, thì có một đoàn người mặc y phục trắng vây quanh Bà, quỳ gối, cúi mình đọc kinh ca ngợi Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Thiên Thần bảo Bärbel cầu nguyện theo. Dù không nghe thấy sự gì suốt lúc Bärbel nói chuyện với đấng hiện ra, chúng con cũng để ý thấy môi cô nhấp nháy, lời cầu nguyện rất rõ theo một tiết điệu rất hay. Lời cầu như sau:
1. Van tuế Thiên Chúa, đấng trị vị muôn đời, đấng hằng sống, đấng hằng hữu, thẩm phán công minh, là Cha hằng nhân từ hiền hậu. Nguyện vinh hiển, tán tụng, ngợi khen đời đời thuộc về Ngài qua Ái Nữ Ngài rạng ngời như vầng dương, Mẹ tuyệt vời của chúng con.

2. Vạn tuế Thiên Chúa, làm người tự hiến, Chiên đổ máu, Vua An Bình, Cây sự sống, Ngài là đầu, là cổng dẫn đến cung lòng Chúa Cha, vĩnh cửu từ phận người, ngự trị cùng thân phận này muôn đời. Nguyện uy quyền, vinh hiển, cao trọng, tán tụng thuộc về Ngài nhờ đấng Vo Nhiễm cư mang Ngài, Mẹ tuyệt vời của chúng con.

3. Vạn tuế Thiên Chúa, Thần linh vĩnh cửu, Đấng tuôn đổ thánh thiện, từ muôn đời tác động trong Chúa! Ngài, ngọn lửa nóng từ Cha đến Con, Ngài sóng cuộn dâng, thổi sức mạnh, ánh sáng, hơi ấm trong từng chi thể thân xác trường sinh, Ngài dải dây tình muôn thuở, là Thần Linh Thiên Chúa hiện dạng trong kẻ sống. Ngài giòng lửa đỏ từ Đấng Hằng Sống tuôn đến mọi thụ tạo. Nguyện quyền năng, vinh hiển, diễm lệ thuộc về Ngài nhờ Hiền Thê được tấn phong triều thiên của Ngài, Mẹ tuyệt vời của chúng con.”

Sau đó Bäbel cùng đấng hiện ra lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tôi. Bà chỉ đọc đôi câu “Vinh danh Thiên Chúa, Amen”.

Mỗi lần đọc bà cúi mình thật sâu. Sau khi lần chuỗi, Bà giang tay cầu nguyện. Bärbel không thể nhớ lời Bà cầu cùng Chúa Ba Ngôi. Bà cầu xin xho giáo hội nhìn nhận địa vị Bà và quan tâm đến thánh ý Chúa Cha. Bà xin Chúa Ba Ngôi nhờ tay Bà ban phép lành và bình an cho giáo hội. Lúc cầu xin Bà trở nên sáng ngời trong suốt, tỏa một vầng hào quang chói lọi làm Bärbel hoa mắt. Ánh mặt trời chẳng thấm vào đâu nếu đem so với vầng sáng từ Bà tỏa ra. Sau cùng Bà ban phép lành rồi biến mất.

Chỉ một mình Bärbel thấy và trò chuyện với Bà, còn con và em con tuyệt chẳng thấy, chẳng nghe gì, chỉ trừ lời Thiên Thần dâng lên Chúa Ba Ngôi cực thánh con nghe được, con vội tốc ký nên mới ghi lại đây từng chữ một. Trong dịp siêu kiến lẫn thứ hai Bärbel giữ riêng cho mình những lời truyền thuộc phạm vi cá nhân. Chúng con không đoán ra cô hỏi những gì, chỉ thấy môi cô mấp máy.

của cô chân thành và đậm đà, nên lối sống của cô có điều khác lạ. Cô không đề cập đến bệnh thần kinh. Cô rất khổ tâm khi nghe ai ca ngợi hay tìm hiểu điều gì đó đặc biệt nơi cô. Cô không muốn ai nâng cô lên cao, trái lại cô chỉ mong sống ẩn náu, không ai biết đến. Đức tin của cô vững vàng. Phần mặc khải đầu tiên con ghi lại từng chữ như cô thuật. Phần thứ hai tường thuật các diễn biến, mặc khải tùy theo ý nghĩa.

Pfaffenhofen / Roth ngày 06.01.1947
Martin Humpf, cha sở

--------------------------------------------------------

Đến đây chấm dứt các diễn biến tại Marienfried.
Ngày 01.02.1947 Bärbel được bổ nhiệm làm việc trong nhà xứ, cô luyện tập cho mình thành tuyên úy. Chẳng bao lâu cô bị bệnh đau chân mà từ trước đến giờ cô không biết, rồi bị đau ở một bên trái tim, không bao lâu đau cả hai tay. Những chỗ đau nứt dần ra lần đầu tiên ngày 21.02.1947 và chảy máu. Ngày thứ năm tuần thánh cô sống trong một trạng thái khiếp sợ rồi trải sang trạng thái xuất thần kéo dài cho tới chiều thứ sáu tuần thánh. Ngay đêm vọng Phục Sinh Bärbel hân hoan được tham dự vào sự Phục Sinh của Chúa. Giữa đêm cô mừng rỡ đánh thức mọi người trong nhà xứ, nơi người ta đặt cô trong phòng trọ kể từ hôm thứ năm tuần thánh.

Nhân chuyến thăm Roma vào năm thánh 1950, cô ghé qua thành Assi, vì sợ người ta để ý đến vết thương trên mình, cũng như sợ không thể đảm nhiệm dạy giáo lý lâu hơn được chỉ vì các vết thương đó, nên cô thành khẩn cầu xin ơn phù giúp bên mộ thánh Phanxicô, xin chúa cất đi các dấu thánh Ngài trên người cô. Dù các vết thương gây đau đớn trăm bề, cô vẫn lãnh nhận với lòng khiêm cung, theo ơn phù trợ của Mẹ Thiên Chúa. Theo Anna Humpf kể lại, Không bao lâu chuyến thăm Roma, Bärbel lần đầu tiên trên đường từ München về Pfaffenhofen, vết thương trên tay chỉ còn lại các vết sẹo.

Mùa hè 1948 Bärbel vâng lệnh cha chính địa phận (Generalvikar) nghỉ việc nhà xứ, theo yêu cầu khẩn cấp rời khỏi địa phương này. Trước hết cô đến München để dạy giáo lý, sau này lập gia đình với một người theo tu hội Schönstatt, được 5 con. Lúc này cô sống gần Paffenhofen.

Vào nửa năm đầu 1947, đức giám mục địa phận Ausburg hồi ấy là Dr. Humpf-Müller cho lệnh điều tra. Thứ ba tuần hiện xuống năm 1947, cha linh hướng đai chủng viện địa phận thánh Hieronymus tại Dillingen là cha Bleienstein đến thăm cha Humpf lần đầu tiên. Chẳng bao lâu cha Bleienstein thành lập ra một “ủy ban một người” (eine Ein-Mann-Kommission). Cuộc điều tra kéo dài trong 3 năm mà chẳng thấy cha Bleienstein thường xuyên ở Marienfried. Cho đến nay chẳng người thứ ba nào biết nội dung bài tường thuật của cuộc điều tra. Năm 1950 cha Humpf chỉ nghe truyền miệng từ tòa cha chính địa phận chuyện liên quan đến Marienfried.

Theo đó, nếu xác nhận về mặt luân lý thì căn nguyên các diễn biến xảy ra không đủ nói lên tính chất siêu nhiên, mọi sự việc liên quan đến Marienfried đều xảy ra bình thường và tự nhiên. Ngoài tin truyền miệng trái nghịch với lệnh cấm cha Humpf nói về sự kiện Marienfried ra, không còn chuyện gì xảy ra nữa. Marienfried như ngủ say cho đến đầu năm 60 (tựa trường hợp Marpingen/Saar năm 1876). Trước thử thách gay go, không chỉ riêng cha Humpf mà ngay cả những ai có liên hệ đều tỏ ra thái độ trung thực làm con phục tùng Mẹ Giáo Hội (Kirche). Nhờ vậy cha Humpf vẫn giữ nhiệm sở tại Pfaffenhofen cho đến tuổi hưu. Ngày nay cha đảm nhận vai trò cố vấn tinh thần dẫn dắt nơi cầu nguyện Marienfried.

Trong thời gian như bị lãng quên đến khoảng giữa những năm 60 có hơn 20 người xuất thân từ Pfaffenhofen được ơn kêu gọi thành linh mục hay nên bậc dòng tu.

Đúng 20 năm sau chiến tranh, đóm lửa Marienfried như sắp tàn trong tro bụi, chợt bừng cháy sống động trở lại. Marienfried bắt đầu thời phát triển. Cuộc điều tra ngưng lại.

Ngày 12.07.1974, đương kim giám mục Ausburg là Dr. Joseph Stimpfle ban chỉ tuyên bố trong tờ báo địa phận các điều sau:

1. Năm 1944 giáo xứ 7911 Paffenhofen/Roth (gần Neu-Ulm) đã hứa xây một nguyện đường để tôn vinh Mẹ Thiên Chúa khi được Mẹ che chở thoát hiểm nguy trong thời chiến. Ngày 14.07.1946 cơ sở giáo hội địa phương quyết định xây nguyện đường, này 18.05.1947 giám mục phê chuẩn ban phép lành cho nguyện đường. Kể từ thời gian đó gia đình Schönstatt nhận chăm lo việc tôn sùng Mẹ Maria trong nguyện đường.

2. Ngày 28.05.1947 là ngày khởi sự tìm hiểu về “những lần hiện ra tại Marienfried, về sứ điệp Marienfried”. Nhiều kết quả thu được từ năm 1950 cũng như những quan sát thu thập được sau này không cho phép thừa nhận “những lần hiện ra, hay sứ điệp” mang tính chất siêu nhiên. Ngay cả những hình thức cầu nguyện hướng về mục đích trên cũng chưa được toà giám mục cho phép. Chuyện phép lạ cũng như đòi chứng cớ những lần hiện ra đều là chuyện không có. Năm 1983 đức giám mục ban cho địa điểm cầu nguyện Marienfried vinh dự là một nhà Chúa trong khuôn khổ năm thánh đặc biệt, ai đến đây cầu nguyện được ơn toàn xá.

Cũng nên kể 3 câu chuyện dữ xảy ra tại Marienfried.
Năm 1948 bà được thấy điềm lạ (Seherin, phải chăng là Bärbel?) bị bắt cóc, cưỡng bức vào việc bái thờ ma quỷ. Buổi chiều ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu 1970, nhà tạm (tủ đựng mình thánh Chúa) bị phá tung mất tiêu, nội diện nhà nguyện bị hư hại nặng, ánh sáng vĩnh cửu (đèn chầu) bị dập tắt. Ngày 25.06.1970 là ngày kỷ niệm 24 năm lần hiện ra cuối cùng, thủ phạm đầu tiên bị bắt giam. Không bao lâu các đồng lõa cũng bị bắt. Chúng gây ra chuyện động trời không phải không có lý do.

Năm 1973 nhà nguyện phụ làm bằng gỗ do đức giám mục Schmid thuộc địa phận Ausburg làm phép ngày 23.07.1972 bị cháy. Ngày 05.10.1974 đức giám mục Stimpfle đích thân làm phép nhà thờ phụ mới và nhà trọ Marien cho khách thập phương xa gần đến hành hương. Nhà thờ phụ chỉ có lễ trong trường hợp khách hành hương quá đông, không còn chỗ xem lễ trong nhà thờ chính. Kể từ năm 1966 giáo quyền không hạn chế hoạt động của Marienfried nữa, bãi bỏ mọi nghiêm ngặt ban đầu. Bắt đầu ngày 13.09.1966 linh mục được phép dâng lễ, đặt mình thánh Chúa trong nhà nguyện. Địa phận cho phép Marienfried xuất bản kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội, các bài thánh ca ngợi khen Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh (27.10.1966) và sứ điệp Marienfried. Dù được phê chuẩn cho in nhưng giáo hội địa phương vẫn không cho nói gì về phương diện siêu nhiên của sứ điệp, dẫu sao nội dung sứ điệp cũng phù hợp với chân lý đức tin Thiên Chúa Giáo.

Năm 1947 giám mục bấy giờ của Fatima là đức cha Venancio Pereira đến thăm Marienfried lần đầu tiên. trong bài giảng ngài nói: “Marienfried và Fatima có liên quan mật thiết với nhau. Hai nơi đều được Chúa giao cho sứ mệnh đặc biệt là “đem lại hòa bình mong đợi từ lâu cho nhân loại trong thế giới và trong giáo hội”.

Marienfried còn mang ý nghĩa: tổng hợp việc tôn vinh Mẹ Maria của thời đại chúng ta. Nơi thánh Marienfried là một trong các nơi thánh hoàn hảo nhất tôn vinh Đức Mẹ của giáo hội công giáo, muôn người tôn vinh Mẹ bằng nhiều cách tại nơi thánh này.

Vào dịp lễ Chúa Ba Ngôi 25.05.1986, 40 năm sau lần hiện ra ra, chủ sự nhà xuất bản tập san Thần Học là nhà thần học luân lý, đức ông Prof. Dr. Johannes Bökman đã giảng 2 bài thật xuất sắc, rõ ràng đầy xúc động ở Marienfried về đề tài Chúa Ba Ngôi. Chiều cùng ngày khoảng 21:00 giờ, Thiên Chúa Toàn năng đã ban cho toàn thể khách hành hương thấy cảnh mặt trời huyền bí vĩ đại trong 15 phút để chấm dứt một ngày suy niệm, kết thúc cuộc rước nến bằng lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Một nhân chứng kể lại: “Tôi thấy một dĩa tròn rất lớn mầu trắng đục ở đàng xa trước đám mây trời đang ngả về đêm. Hình như dĩa tròn này có nhiều viền dầy cỡ 3 ngón tay cái, mọi người ai cũng có thể nhìn hẳn vào trong cái dĩa sáng lơ lửng cách mặt đất khoảng chừng 10 thước trên giáo xứ Pfaffenhofen, ngay khúc đường hơi quanh. Bỗng dĩa tròn bắt đầu quay, lại thêm một viền đỏ bao quanh dĩa, viền dĩa này ban đầu đỏ lợt sau đó chuyển sang đỏ sậm. hiện tượng này kéo dài khảng 15 phút, từ 21:00 tới 21:15 giờ. Cha Humpf đến lúc nào tôi không hay, mặt cha không lộ vẻ gì. Mọi người hiện diện xôn xao, hoan hỉ. Sau cùng có người cất tiếng, hát bài “Großer Gott, wir loben Dich” (Lạy Thiên Chúa vĩ đại, chúng con ca ngợi Chúa). Dĩa tròn lui dần về bầu trời mờ tối, trở lại hình ảnh quen thuộc, mặt trời mầu đỏ đang lặn dần”.

Ngày 25.07.1987, đương kim giám mục Ausburg là đức cha Dr. Joseph Stimpfle đến thăm Marienfried và cử hành thánh lễ trên đồng cỏ xanh. Bấy giờ số người đến Marienfried khoảng 3000 người dự thánh lễ, họ đổ xô về đây từ khắp nơi xa gần, ngay cả Pháp, Áo, Thụy Sĩ bất chấp thời tiết ẩm ướt và lạnh lẽo. Hữu ý hay vô tình, đức cha tỏ niềm tôn kính trước các sự kiện Marienfried và trước ân sủng đức tin bền vững sống động tại nơi này từ hơn 70 năm qua vẫn còn tiếp tục phát triển.

Ý nghĩa sứ điệp Marienfried lại càng thêm hiển nhiên, khi các linh mục lẫn thường dân thừa nhận có sự xung đột với các quyền lực bóng tối, là hiện tượng đặc biệt của thời đại chúng ta.

Hội Thánh công giáo của Chúa Kitô là giáo hội thánh htiện, tông truyền lập nền tảng trên thánh Phêrô phải cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi vì hồng ân cao cả, hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho Trinh Nữ Maria qua sứ điệp Maria tại Marienfried. Giáo hội phải tạ ơn Thiên Chúa vì các dấu hiệu quan trọng; dấu hiệu quan trọng của khải huyền mà Chúa đã ban cho toàn thể nhân loại qua Trinh Nữ Maria, Đấng được chúc phúc giữa muôn người phụ nữ. Chúa vẫn tiếp tục ban dấu hiệu khắp nơi trên thế giới sau 1946. Hình dạng ánh sáng của Mẹ Maria là chứng tá Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa mà Tân Ước tuyên bố “Ngài là ánh sáng” (1 Joh 1,5) và là đấng “Ngự trong ánh sáng siêu nhiên” (Tim 6,16). Ai tìm nương náu nơi Maria trính nữ vẹn tuyền, Đấng sinh con Chúa Trời, Hiền Thê của Chúa Thánh Thần, Mẹ Giáo Hội, hết lòng cậy trông phó thác chạy đến kêu cầu Trinh Nữ và tôn vinh Mẹ với lòng con thảo, người đó sẽ cùng Mẹ vượt qua tăm tối và sẽ là “ánh sáng trong Chúa” (Eph 5,8). Nguyện lời cầu bầu của Mẹ sẽ khiến con cái bóng tối trở thành “con cái sự sáng” (Joh 12,36), đoàn con tôn vinh “Thiên Chúa độc nhất vô hình và vĩnh cửu” (1 Tim 1,17), loan truyền kỳ công vĩ đại của Ngài, Đấng đã gọi dân Ngài từ “chốn u tối sang ánh sáng huyền diệu của Ngài” (1 Petr. 2,9).

M. Benedict viết: “Ngày hiện ra lần thứ nhất ở Marienfried cũng là ngày kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra lần đầu ở Fatima. Nhờ Fatima chúng ta mới thấy Marienfried có liên quan với chốn này. Kinh lần chuỗi Vô Nhiễm Nguyên Tội như món quà, như lời mời đầu tiên mà Mẹ Maria ban cho Marienfried và có liên hệ với Lộ Đức (trong các câu cầu nguyện). Chiều hướng của Marienfried trực chỉ tương lai. Lúc trinh thai vẹn tuyền Mẹ Maria đã đạp dập đầu con rắn.
Đối với Mẹ, trinh thai vẹn tuyền là một đặc ân duy nhất, nhưng không phải là mục đích tuyệt đối. Nơi viên mãn ân sủng Mẹ hoàn toàn đứng trong vai trò phục vụ công trình cứu độ cũng như phục vụ mọi người chúng ta”.

Ngài còn tiếp: “Chúng ta chỉ có thể lãnh nhận một mức cao cả thực sự của Marienfried trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Vì việc thông ơn của Mẹ Maria là mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần… Cũng như Thần Linh Thiên Chúa soi sáng chúng ta hiểu ý nghĩa phúc âm, Ngài cũng có thể giúp chúng ta hiểu thấu lời Mẹ Maria nói cùng chúng ta trong sứ mệnh của Chúa Cha… Vì Mẹ không tự ý làm điều gì.. Mẹ là ái nữ mặc áo mặt trời của Chúa Cha, Hiền Mẫu tinh tuyền của Chúa Con, Nương Tử đội triều thiên sao sáng của Chúa Thánh Thần, Mẹ muôn đời là nữ tỳ khiêm nhường của Chúa.”

Để kết thúc dòng suy tư, cha Benedict nói lên lòng tin của mình: “Mẹ Maria thật trung thành, yêu con cái Mẹ, bởi máu thánh con cực thánh Mẹ đã đổ ra để chuộc tội chúng con. Mẹ Maria là tinh tú trong cuộc đời chúng ta. Mỗi khi gặp nguy nan khốn khó chúng ta chạy đến kêu cầu, nép dưới áo Mẹ, Mẹ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Mẹ chẳng bao giờ quên chúng ta, Mẹ của nhân loại, Mẹ của giáo hội, Đấng trung thành trung gian của mọi ân sủng. Lạy Mẹ Maria”.

---------------------------------------------------------

Ghi chú của người dịch

Thánh Phaolô viết: “Thiên Chúa ngự trong ánh sáng siêu nhiên”. (Tim 6,16). Nhờ áng sáng chúng ta thấy được mọi vật trong thế gian bằng đôi mắt. Vậy ánh sáng là nền tảng để chúng ta thấy mọi vật. Trên trần gian này mọi thứ hữu hình đều có thực tại, nhưng không phải thực tại thuần túy, dù ở trong ánh sáng nhưng mọi vật lại không phải là ánh sáng. Thực thể của Thiên Chúa là thực tại thuần túy, nên thực thể Ngài cũng chỉ như ánh sáng. Thánh Gioan tin: “Thiên Chúa là ánh sáng thật” (Joh 1,9). Ngài ngự nơi chính Ngài, nơi đó cũng chính là ánh sáng siêu nhiên.

Trong Thánh Vịnh 96,2 chép “vầng mây và bóng tối phủ quanh Ngài” và trong sách Exodus “Xuất Hành” câu 20,21 lại ghi “Môisen tiến lên đám mây đen nơi Chúa Ngự”. Dyonysius trả lời: “Toàn bóng đen là ánh sáng siêu nhiên”. Vậy ánh sáng trong sách trên có ý nghĩa ánh sáng, trong khi sách khác lại nói ánh sáng làm chói đôi mắt, nhưng ánh sáng đó vẫn còn thấy được. Vậy ánh sáng thể hiện qua hai lối: như bóng đen và ánh sáng siêu nhiên.
Như bóng đen vì ánh sáng tự nhiên trong mình vô ánh sáng.
Như ánh sáng siêu nhiên vì cường độ ánh sáng mạnh quá độ làm đôi mắt bị chói lòa, sinh ra mù không còn thấy được vật gì nữa.
Cũng vậy chúng ta không thấy được một số sự vật vì chúng thiếu hữu thể, cũng như vì có hữu thể quá hoàn hảo nên một số vật không được đập vào mắt chúng ta.

Thiên Chúa chính là hữu thể tuyệt đối, trọn hảo, nên Ngài siêu việt đối với chúng ta. Chúng ta không thể thấy Ngài bằng đôi mắt xác thịt, bằng trí tuệ loài thụ tạo như lời thánh Phaolô: “không một người nào xem thấy được và cũng không thể nào xem được Người” (1 Tim). Theo nghĩa “tuyệt đối am tường” thì điều này cũng hoàn toàn phù hợp, vì Thiên Chúa tự lĩnh hội hoàn toàn thực thể thiêng liêng của Ngài. Chúng ta đạt đến Ngài theo nghĩa “chiêm ngưỡng”, điều này có 3 ý:

1. Không một ai thấy Thiên Chúa bằng đôi mắt xác thịt.

2. Chỉ mình Chúa Giêsu thấy được thực thể Thiên Chúa bằng đôi mắt tinh thần trong thời gian tại thế. “Chẳng ai thấy được và sống” (Ex 33,20).

3. Bằng ánh sáng tự nhiên của trí tuệ, chẳng ai thấy được Thiên Chúa là gì trong chính Ngài “Chẳng ai thấy Cha ngoài Con ra” (Mt 11,27), “chẳng phải huyết nhục đã cho con biết điều nà đâu” (Mt 16, 17).


Nguồn: http://www.hanhhuongmarienfried.de/
Gia đình Marienfried


Hình ảnh Hành Hương Đức Mẹ Marienfried